Doanh nghiệp hợp tác với chính quyền

     Thừa nhận trách nhiệm và tự nguyện báo cáo hành vi sai trái cho chính quyền có thể kéo theo việc điều tra hay chất vân. Hoặc chính quyền có thể đến thăm doanh nghiệp mà không báo trước. Nhà quản lý có trách nhiệm phải đề ra những chính sách để giải quyết các tình huống phát sinh này và định ra qui trình để nhân viên và người thừa hành làm theo.

Doanh nghiệp hợp tác với chính quyền

     Cách thức doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu của chính quyền có ý nghĩa pháp lý quan trọng tiềm tàng. Nhà quản lý có trách nhiệm phải đề ra chính sách điều chỉnh cách thức doanh nghiệp sẽ đáp ứng những yêu cầu của chính quyền. Chính sách này giúp nhân viên và người thừa hành có quyết định có trách nhiệm để hợp tác.

     Các tiêu chuẩn và qui trình phải được hình thành với sự tham gia của nhân viên cố vấn pháp lý, người quen thuộc với luật và tập quán của địa hạt tài phán mà doanh nghiệp hoạt động. Nếu có nhiều khả năng chính quyền sẽ điều tra, đánh giá, hoặc kiểm tra việc tuân thủ thì chủ sở hữu và nhà quản lý phải đảm bảo phải xác định được nhân viên chịu trách nhiệm, và những trách nhiệm của họ phải rõ ràng. Họ phải biết rõ cần tham vấn ai, kể cả nhân viên cố vấn pháp lý. Có những chính sách và qui trình này sẽ giúp đảm bảo rằng các nhân viên hành động có trách nhiệm và tránh những sai lầm có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Hành động điều chỉnh

     Theo nguyên tắc chung, RBE thực hiện tất cả biện pháp cần thiết để khắc phục bất kỳ thiệt hại nào gây ra cho các bên liên quan. Những bước đi này bao gồm bồi thường cho nạn nhân, ngưng hoạt động, thu hồi sản phẩm, khôi phục nguyên trạng môi trường và ngăn ngừa thiệt hại trong tương lai. Doanh nghiệp có thể thực hiện dịch vụ cộng đồng để sửa chữa thiệt hại do hành vi sai phạm gây ra.Khi tiên liệu thiệt hại có thể xa hơn, như vấn đề sức khỏe có thế mất hàng chục năm mới thể hiện ra, RBE có thế thành lập quỹ tín thác dành cho các bên liên quan bị thiệt hại do sai phạm của mình.

Xử lý sai trái hay thiệt hại nghiêm trọng đến các bên liên quan

     Cần phải phân biệt giữa lỗi và hành vi sai trái. Hành vi sai trái là cố ý, bất cẩn, hoặc thiếu trách nhiệm, bất kể những niềm tin cốt lõi, các tiêu chuẩn và qui trình được thiết lập, và mong đợi hợp lý của các bên liên quan trong doanh nghiệp. Nó cũng bao gồm việc vi phạm tiêu chuẩn hay qui trình, và sự cảnh báo phải tuân thủ nội dung và tinh thần của luật.

Xử lý sai trái hay thiệt hại nghiêm trọng đến các bên liên quan

     Ví dụ, không thể biện hộ cho một chọn lựa hay hành động, như hối lộ cho một cán bộ nhà nước để bán hàng, mà hành động đó có thể góp phần đạt được mục tiêu tài chính cua doanh nghiệp trong ngắn hạn. Thứ nhất, vẫn không rõ việc đạt doanh thu thông qua hối lộ có góp phần tăng phúc lợi củadoanh nghiệp kể cả trong ngắn và dài hạn hay không. Hối lộ thường chỉ có lợi cho nhân viên liên can. Thứ hai, chủ sở hữu và nhà quán lý đề ra tiêu chuẩn chính là vì họ đã xác định sự hối lộ sẽ tăng rủi ro không thể châp nhạn được đối với doanh nghiệp. Không thực thi tiêu chuẩn này có nghĩa là chấp nhận rủi ro mà họ đã xác định là không thế chấp nhận được.

     Chủ sở hữu và nhà quản lý phản ứng trước hành vi sai trái giống như cách họ phản ứng với lỗi lầm – là đánh giá điều gì xảy ra và tại sao. Phảnứng này bao gồm nỗ lực học hỏi từ sai lầm. Hơn nữa, người vi phạm có thể bị kỷ luật hoặc cho thôi việc theo như luật cho phép.

     Khi hành vi sai trái là sự vi phạm pháp luật hoặc một bên liên quan bị thiệt hại nghiêm trọng, cần phải cân nhắc thực hiện một số biện pháp khac.

Tự nguyện công bố thông tin

     Khi một nhân viên và người thừa hành vi phạm pháp luật thay mặt cho công ty, có thế cá nhân viên đó và doanh nghiệp sẽ bị truy tố. Theo đúng chính sách trách nhiệm, thì chủ sở hữu và nhà quản lý phải tham khảovới cố vấn địa phương về khả năng có nên tự nguyện công bố thông tin với chính quyền hay không. Sự tự nguyện công bố thông tin không phải là một bước đi dễ dàng nếu thực tế chính quyền không biết gì về sự vi phạm hoặc nêu nên pháp trị không phải là thông lệ. Tuy nhiên, ở nhiều nền kinh tế có những lý do chính đáng để RBE phải thiết lập chính sách về sự tự nguyện công bố thông tin.

     Thứ nhất, các nhân viên cần biết chính sách đó là gì và sự cẩn trọng tuân thủ luật của họ được chủ sở hữu và nhà quản lý đánh giá nghiêm túc đến mức nào. Không có sự rõ ràng này thì chủ sở hữu và nhà quản lý có thể khuyến khích một xu hướng sai phạm mà họ không thể thoát ra. Thứ hai, ở nhiều địa phận tài phán, sự tự nguyện công bố thông tin sẽ được đối xử như là doanh nghiệp có tinh thần công dân tốt, và hình phạt có thểchỉ quy vào cá nhân mà thôi, ở một số nơi, luật của địa phận tài phán qui định về công bố thông tin, và có thể được xem như là một vi phạm khác, tách biệt, ở nơi khac, chính phủ cam kết sẽ nhẹ tay nếu sự công bố thông tin là trên cơ sở tự nguyện.

     Cuối cùng, rủi ro bị truy tố và những hình phạt nặng đối với doanh nghiẹp thường tăng cao nếu chính quyền phát hiện sự vi phạm và biêt được doanh nghiệp đã cố gắng che giấu nó.

     Như hai tác giả đã ghi chú, có một sốnguy hiểm tiềm tàng khi không tự nguyện thông báo sự vi phạm: nếu chính quyền phát hiện có vi phạm, thì thiệt hại đối với uy tín của doanh nghiệp là không thể khắc phục được. Các cơ quan nhà nước thường khởi tố nếu họ phát hiện ra vi phạm. Không thông báo thường bị xem là che giấu, có thể là để bảo vệ ban quản lý cấp cao. Nếu có vi phạm theo sau, thì việc không thông báo có thể được sử dụng để chống lại doanh nghiệp trong phiên tòa sau này. Các tác giả kết luận, “theo đó, ngay cả khi doanh nghiệp tin rằng chính quyền sau này có thể không phát hiện ra vi phạm, nhưng vì quyền lợi tốt nhất và lâu dài của doanh nghiệp, họ nên báo cáo sự vi phạm này cho chính quyền.”

     Ở nơi pháp trị không phải là thông lệ, thì chủ sở hữu và nhà quản lý phải xem xét cẩn thận bối cảnh phù hợp của doanh nghiệp khi thiết lập chính sách của mình và nên tìm kiếm tư vấn chuyên môn. Chắc rằng có những tình huống mà sự tự nguyện báo cáo sẽ đặt doanh nghiệp vào thực trạng tham nhũng hành chính nhiều hơn. Tuy nhiên, chủ sở hữu và nhà quản lý cũng phải xem xét văn hóa tổ chức và ảnh hưởng của việc không thừa nhận trách nhiệm về hành vi sai trái sẽ lên thái độ của nhân viên.

     Trường hợp dự kiến sẽ có sự nhũng nhiễu của cán bộ nhà nước khi RBE báo cáo sai phạm, thì điều quan trọng là RBE không nên đối phó với tình huống này một mình. Nếu dự kiến sẽ xảy ra, chủ sở hữu và nhà quản lý nên lên kế hoạch làm việc với các hiệp hội thương mại và tổ chức phi chính phủ để giảm rủi ro cho mình. Vì công cụ hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng là sự minh bạch, các hiệp hội thương mại có thể hỗ trợ những doanh nghiệp tự nguyện thông tin về sai phạm của mình thông qua những tuyên bố công khai nhắm đến cơ quan liên đới hoặc tạo áp lực lên cơ quan đó để hạn chế sự nhũng nhiễu. Trong điều kiện thu hút được sự chú ý cao như vậy, đặc biệt thông qua sự soi xét của giới truyền thông, thì RBE có thể ít bị tổn hại trước sự vòi vĩnh của cơ quan hữu quan.

     Trong bất kỳ trường hợp nào, nhà quản lý có trách nhiệm phải thiết lập chính sách điều chỉnh cách thức đối phó với hành vi sai trái trước khi nó xảyra, khi nhận định của họ là rõ ràng nhất. Theo cách này, họ có thể xác định những khoảng cách về năng lực. Ví dụ, ngoài việc hình thành kế hoạch hành động chống khủng hoảng, chủ sở hữu và nhà quản lý có thể xác định nhu cầu thiết yếu phải có người phát ngôn hoặc cố vấn xuất hiện trước báo giới.

Các xử lý sai lầm và thất bại

     Ở nhiều văn phòng, người ta thường thấy một biên báo như sau phạm sai lầm là con người, tha thứ là thánh nhân – cả hai đều không có trong chính sách của công ty này”. Tuy nhiên, RBE nhận thấy rằng người nhân viên không bao giờ thất bại là người không đóng góp hết sức mình cho lợi ích của công ty. Thất bại là mẹ thành công, miễn là nó phải nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và phương tiện phải được lựa chọn tốt và trong phạm vi khả năng của doanh nghiệp.

Các xử lý sai lầm và thất bại

     RBE nuôi dường môi trường trong đó sự sáng tạo và năng nổ của nhân viên và người thừa hành được khuyên khích bất kể có sai lầm và thất bại. Không có cách nào chắc chắn hơn trong việc cản trở sự sáng tạo bằng cách trừng phạt những nhân viên phạm sai lầm trong thiện chí.

    Tuyên bố chính sách khẳng định cam kếtcủa cấp quản lý muốn thấy được kết quả tốt nhất từ nhân viên và người thừa hành trong khi đưa ra những tiêu chí trách nhiệm để đánh giá những chọn lựa va hành động của họ. Tuyên bố này khẳng định lại trách nhiệm của nhân viên và người  thừa hành: có những chọn lựa và hành động có trách nhiệm để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Đây cũng là một chính sách cởi mở, nhằm giải tỏa nhân viên và người thừa hành khỏi sự e ngại sẽ bị phê bình một cách thiếu công bằng hoặc bị kỷ luật nếu họ phạm sai lầm hoặc thất bại.

    Một phản ứng có trách nhiệm trước sai lầm của nhân viên là đánh giá điều gì xảy ra và tại sao. Nó bao hàm một nỗ lực trung thực đế học hỏi từ thất bại hay sai lầm. Các nhà quản lý có thể cần điều chỉnh các tiêu chuẩn và qui trình không thể ngăn ngừa hành vi sai trái. Họ có thế tái huấn luyện hoặc giáo dục người nhân viên hoặc người thừa hành đó, hay có thể điều chuyển công tác, đặc biệt nếu nhân viên đó nắm giữ một vị trí có thẩm quyền quyết định lớn.


Đối phó với những thiếu sót, sai trái hoặc hiểu lầm

     Bất kể những nỗ lực tối đa của chủ sở hữu và nhà quản lý, đôi khi mọi chuyện vẫn có thể sai lệch. Ngay cả những doanh nghiệp kinh doanh có trách nhiệm nhất cũng phạm sai lầm. Các tiêu chuẩn và qui trình sẽ bị vi phạm, và mong đợi hợp lý của các bên liên quan sẽ bị bỏ qua. Chủ sở hữu và nhà quản lý phải giải quyết những thách thức này. Nói theo lời của một tác giả là “họ không tự lừa dối mình”.

Đối phó với những thiếu sót, sai trái hoặc hiểu lầm

      Môt nhà máy có nhiều nhân viên thường xuyên đi làm trễ, các giám sát viên giảng giải như cơm bữa cho cả tập thể về tầm quan trọng của việc đúng giờ. Cuối cùng họ bắt đầu yêu cầu mọi người phải đến sớm để những “ai còn đi trễ nhưng vẫn đúng giờ”.

     Cách làm này xem như thiếu công bằng với những nhân viên có trách nhiệm và không được những nhân viên thiếu trách nhiệm tuân thủ, vì họ vẫn đi trễ.

     Điều đó cho chúng ta biết gì về văn hóa của công ty này?

     Chủ sở hữu và nhà quản lý cần dự liệu những thiêu sót, sai trái thật sự, và việc các bên liên quan hiểu lầm về những quyêt định và hanh động cua doanh nghiệp. Tôi thiểu là họ cần thiết lập những tiêu chuẩn và qui trình để đối phó với vấn đề này. Nhà quản lý cần được huấn luyện cách quản lý khung hoảng. Khi xảy ra sai trái, chủ sở hữu và nhà quản lý cần xác định vấn đề và lý do tại sao. Họ phải biết thực hiện các bước gì để hạn chế thiệt hại hoặc tái diễn: hành động khắc phục, bồi thường, công khai thông tin tự nguyện hoặc một số hành động khắc phục khác để bồi thường cho những người hèn quan bi thiệt hại hoặc ngăn chặn trường hợp vi phạm khác.

     Hơn nữa, các bên liên quan bị thiệt hại do sai trái của doanh nghiẹp muốn rằng họ sẽ được thông báo về trường hợp vi phạm các tiêu chuẩn ảnh hưởng đến họ, và rằng tất cả những thiệt hại sẽ được khác phục, nếu có thể. Không đáp ứng những kỳ vọng này có nghĩa là chủ sở hữu và nha quản lý đa gửi đi một thông điệp là: các niềm tin ct lõi của chúng ta có th thỏa hiệp được. Tiêu chuẩn của chúng ta chỉ áp dụng khi nó không quá tn kém. Việc không thỏa mãn những mong muốn hợp lý của các bên liên quan là chp nhận được, nếu chúng ta tránh bị phát hiện.


Khuyến khích nhân viên tuần theo tiêu chuẩn và quy trình

     Nhiều tập quán quản lý nhắm vào hỗ trợ hành vi kinh doanh có trách nhiệm. Các tập quán quản lý có tính hỗ trợ này có ba dạng:

- Ghi nhận những đóng góp của nhân viên

- Khen thưởng hành vi đạo đức

- Trừng phạt hành vi phi đạo đức

Khuyến khích nhân viên tuần theo tiêu chuẩn và quy trình


Các hệ thống kỉ luật

     Ghi nhận và khen thưởng là hai phương tiện khuyến khích nhân viên và người thừa hành làm theo tiêu chuẩn và qui trình. Nhưng chủ sở hữu và nhà quản lý nên làm gì khi các tiêu chuẩn và qui trình bị vi phạm? Họ phải thực hiện các bước cần thiết để người vi phạm chú ý và để ngăn chặn những vi phạm xa hơn, cao hơn nữa là cho thôi việc và báo cáo cho cơ quan thực thi pháp luật. Họ cần làm như vậy để bảo vệ doanh nghiệp và các bên liên quan khỏi bị thiệt hại hơn nữa.

     Lấy ví dụ một nhân viên bán hàng được thưởng do cấu kết hoặc chào mời các khoảng giảm giá không phù hợp. Để cho công bằng thì người vi phạm phải biết trước hoặc lẽ ra phải biết rằng lựa chọn hoặc hành động đó là không nhất quán với những niềm tin cốt lõi của doanh nghiệp, các tiêu chuẩn và qui trình hoặc những kỳ vọng hợp lý từ các bên liên quan. Sẽ không công bằng nếu kỷ luật một nhân viên khi người này vi phạm một nguyên tắc mà người đó không hề biết có tồn tại. Sự công bằng cũng đòi hỏi nhân viên hay người thừa hành đó có cơ hội để giải thích về hành động của mình. Việc kỷ luật, nếu có, phải phù hợp với sai phạm và được thực hiện một cách hợp pháp.

     Nhưng công bằng là một khái niệm có ý nghĩa ứng dụng rất rộng. Sẽ không công bằng với doanh nghiệp hoặc các bên liên quan, kể cả nhân viên đồng nghiệp, nếu tiêu chuẩn và qui trình không được thực thi. Thứ nhất, hành vi thiếu trách nhiệm không giúp những nhân viên khác đáp ứng được những kỳ vọng hợp lý của các bên liên quan. Thứ hai, một hành động sai trái đơn lẻ có thể dẫn đến sự khởi tố doanh nghiệp, những khiếu nại dân sự, mất uy tín, và bị loại khỏi danh sách các nhà cung ứng được ưa chuộng và mất đi các mối quan hệ hợp tác chiến lược. Cuối cùng, nếu các tiêu chuẩn và qui trình về môi trường, sức khỏe và an toàn bị vi phạm thì phúc lợi của nhân viên và cộng đồng sẽ bị phương hại.

     Việc để cho tiêu chuẩn và qui trình bị vi phạm mà không trừng phạt sẽ có thông điệp rất mạnh. Khi các nhà quản lý không thể thực thi những tiêu chuẩn của chính họ, thì họ đã gửi đi một tín hiệu rằng họ không tin vào những tiêu chuẩn đó. Hơn nữa, không có lý do gì đế các bên liên quan tin rằng tiêu chuẩn bị vi phạm đó chỉ là tiêu chuẩn mà các nhà quản lý không tin tưởng. Toàn bộ hệ thông giá trị sẽ bị nghi ngờ chỉ vì một thất bại trong hành động.

     Những câu hỏi như thế này nảy sinh khi nhân viên nhận được một tiêu chuẩn nước đôi. Nghiên cứu gần đây cho thấy việc nhân viên nhận thức về chương trình đạo đức kinh doanh như cách bảo vệ hàng đầu cho các chủ sở hữu và nhà quản lý chính là yếu tố gâythiệt hại nhất và duy nhất đối với triển vọng thành công của chương trình. Nếu nhân viên thông thường bi phạt vì vi phạm tiêu chuẩn nhưng cấp quản lý thì không, thì toàn bộ chương trình đạo đức kinh doanh có thể bị xem như là một cách nữa để bảo vệ chủ sởhữu và nhà quản lý.

     Một cân nhắc cuối cùng là tránh định ra các tiêu chuẩn và qui trình với mục đích trừng phạt tất cả nhân viên vì sự vi phạm kỷ luật của một thiếu số.Thông thường, nếu nhà quản lý không thoải mái khi đối đầu với một nhân viên hay người thừa hành về hành vi của người này, thì họ sẽ cảnh cáo cả tập thể hoặc thiết lập tiêu chuẩn hay qui trình khác để khuyến khích hành vi mong muốn.